Ngày 14 tháng 9 năm 2009
Sơ lược khách hàng
IMM Group: Từ ngày 14 tháng 9 năm 2009, những cải cách về Luật Di trú trong đạo luật Bảo vệ người lao động năm 2008 sẽ chính thức có hiệu lực. Đạo luật Bảo vệ người lao động sửa đổi từ Luật Di trú năm 1958 nhằm tạo cơ hội cho những người chưa phải là công dân đang muốn vào Úc với mục đích làm việc.
Các cải cách được đưa ra nhằm mục đích bảo vệ tính toàn vẹn của thị trường lao động Úc và đảm bảo rằng điều kiện lao động của những người giữ visa bảo lãnh đáp ứng được các tiêu chuẩn Úc. Đạo luật bảo vệ người lao động tạo ra nền móng cho các cải cách này thông qua 4 biện pháp chính:
- Cung cấp một danh mục nghĩa vụ bảo lãnh mang tính khả thi và rõ ràng hơn cho nhà tuyển dụng.
- Đưa ra hình phạt đối với người bảo lãnh không làm tròn trách nhiệm bảo lãnh.
- Thông tin mới được chia sẻ từ các cấp chính quyền.
- Mở rộng quyền giám sát và điều tra những người bảo lãnh không tuân thủ luật.
Đạo luật bảo vệ người lao động cũng đã được sửa đổi bởi Đạo luật Việc làm công bằng năm 2009. Các số liệu bổ sung được thanh tra giám sát thực hiện khi phát hiện những người bảo lãnh không tuân thủ luật, nhằm đảm bảo Đạo luật bảo vệ người lao động phù hợp với Đạo luật Việc làm công bằng. Tham khảo “Pháp chế ảnh hưởng” dưới đây để biết thêm thông tin chi tiết.
Đạo luật Bảo vệ người lao động chuẩn bị những cải tiến mới về trách nhiệm bảo trợ được công bố trong Luật Di Trú năm 1994. Một thông cáo thay đổi luật với tiêu đề “Những sửa chữa điều lệ nhằm tăng cường tính đồng nhất của chương trình visa tạm diện tay nghề” sẽ được ban hành.
Những điều khoản sau của Luật Di trú năm 1958 được sửa đổi bởi Đạo luật Bảo vệ người lao động:
- Phụ lục 5 (1) – định nghĩa về người đủ điều kiện bảo lãnh – đã được thay thế.
- Phụ lục 5 (1) – định nghĩa về hình phạt dân sự, hội đồng quản lý, tòa án có thẩm quyền, luật sư, đơn vị phạt, thông tin cá nhân, hợp đồng lao động – được đưa vào;
- Phụ lục GA của Chương 3, phần 2 – được bãi bỏ.
- Phụ lục A của Chương 3A phần 2 (phần đầu) – được thay thế.
- Phụ lục B của Chương 3A phần 2 (phần đầu) – được bãi bỏ.
- Mục 140B đến 140D – được thay thế.
- Phụ lục 140E (1) – Ghi chú được điều chỉnh và bổ sung.
- Phụ lục 140E (2) – được thay thế.
- Phụ lục 140F (2) – được thay thế.
- Phụ lục 140G (3) – được thay thế.
- Mục 140GA, 140GB và 140GC – được bổ sung.
- Mục 140H, 140I, 140J, 140K, 140L và 140M được thay thế bởi:
- Mục 140H – Nghĩa vụ bảo lãnh.
- Mục 140J – Tổng số tiền phải trả liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh.
- Mục 140K – Xử phạt về việc không làm tròn nghĩa vụ bảo lãnh.
- Mục 140L – Quy định trong các trường hợp người bảo lãnh có thể không được công nhận quyền bảo lãnh.
- Mục 140M – Hủy bỏ phê chuẩn về người bảo lãnh hoặc ngăn cấm người bảo lãnh.
- Phụ lục 140N(1) và (2) – được sửa đổi.
- Phụ lục 140N(3) – được thay thế.
- Phụ lục 140O(1) – được bãi bỏ.
- Phụ lục 140O(2) – được sửa đổi.
- Phụ lục 140O(4) – được thay thế.
- Phụ lục 140P(1) – được sửa đổi
- Phụ lục 140P(2) – được thay thế.
- Mục 140Q, 140R và 140S – được thay thế như sau:
- Mục 140Q – Hình phạt dân sự – không đáp ứng được các nghĩa vụ bảo lãnh.
- Mục 140R – Vi phạm những thông cáo về các điều lệ của hình phạt dân sự.
- Mục 140S – Xử phạt tiền.
- Mục 140SA – lãi suất thời điểm bản án được thực hiện
- Mục 140SB – lãi suất bản án
- Mục 140SC – Nguyên đơn có thể được phép chọn những quy trình khiếu nại nhỏ tại tòa án dân sự.
- Mục 140T (1) – được sửa đổi.
- Mục 140V và 140 W – được bãi bỏ.
- Phụ mục C và Phụ mục 3A của phần 2 – được thay thế, với:
- Phụ mục F – thanh tra giám sát:
- Mục 140 V – thanh tra giám sát.
- Mục 140 W – Chứng minh thư.
- Mục 140X – ZA (mặc dù những điều khoản này đã sửa lại những điều khoản có liên quan trong luật Di trú năm 1958 nhưng nó vẫn được sửa đổi bởi Đạo luật Việc làm công bằng – Fair Work Act – tham khảo dưới đây để biết thêm chi tiết).
- Điều khoản phụ G – Áp dụng phân chia quan hệ đối tác và các hiệp hội chưa có tính chất pháp nhân:
- Mục 140ZB – quan hệ đối tác – quyền và nghĩa vụ bảo trợ.
- Mục 140ZC – quan hệ đối tác – Phạm tội và hình phạt dân sự.
- Mục 140 ZD – Ngưng quan hệ đối tác.
- Mục 140 ZE – Hiệp hội chưa có tính chất pháp nhân– quyền và nghĩa vụ bảo trợ.
- Mục 140 ZF – Hiệp hội chưa có tính chất pháp nhân – Phạm tội và hình phạt dân sự.
- Mục 140 ZG – Hiệp hội chưa có tính chất pháp nhân ngừng hoạt động.
- Điều khoản phụ H:
- Mục 140ZH.
- Mục 140ZI.
- Mục 140ZJ.
- Mục 140 ZK.
- Phụ mục F – thanh tra giám sát:
- Phụ mục 245L (2) (lưu ý 1), phụ mục 320(3), phụ mục 321(1), phụ mục 336FB(1), đoạn 336FC(2)(e), phụ mục 336FD(1) và phụ mục 488B(1) – bỏ qua (“được định nghĩa trong Luật bảo mật 1988’’).
- Mục 275 và 486K – định nghĩa của luật sư – được bãi bỏ.
- Phụ mục 321 A(4), 332F(4) và 332G(5) – định nghĩa về thông tin cá nhân – được bãi bỏ.
- Phần 8D – Hình phạt dân sự – được bổ sung, bao gồm:
- Khoản 486R: Những người bị yêu cầu phải trả tiền phạt dân sự vì vi phạm các quy định, điều khoản hình phạt dân sự.
- Khoản 486S – Những người dính líu đến việc vi phạm các quy định, điều khoản của hình phạt dân sự.
- Khoản 486T – Thu hồi mức phạt tiền.
- Khoản 486U – Tập hợp thông tin cho đơn yêu cầu mức phạt tiền.
- Khoản 486V – Thủ tục tố tụng dân sự sau thủ tục tố tụng hình sự.
- Khoản 486W – Thủ tục tố tụng hình sự trong quá trình tố tụng dân sự.
- Khoản 486X – Thủ tục tố tụng hình sự sau thủ tục tố tụng dân sự.
- Khoản 468Y – Bằng chứng đưa ra trong quá trình tố tụng đối với hình phạt dân sự không được kết hợp trong tố tụng hình sự.
- Khoản 486Z – Nguy cơ tái dân sự xảy ra.
- Khoản 486ZA – Việc vi phạm các quy định, hình phạt dân sự.
- Các cải cách kỹ thuật và các sửa đổi khác
- Các quy định của chính sách thuế năm 1953 được sửa đổi theo Đạo luật Bảo vệ người lao động.
- Khoản 3ED – Cung cấp thông tin thuế liên quan đến quyền bảo lãnh theo Luật Di trú năm 1958 – bổ sung thêm.
- Các quy định sau của Đạo luật bảo vệ người lao động được sửa đổi bởi Hiệp hội/Tổ chức lao động (Fair Work Act):
- Khoản 140X – Mục đích cho điều tra viên quyền được hành động – được thay thế.
- Khoản 140XA – Khi quyền hạn của điều tra viên được thực thi – được thay thế.
- Khoản 140XB – Quyền kiểm tra nhà dành cho điều tra viên – được thay thế.
- Khoản 140XC – Quyền dành cho điều tra viên khi ở trong nhà – được thay thế.
- Khoản 140XD – Những người hỗ trợ cho điều tra viên – được thay thế.
- Khoản 140XE – Quyền được yêu cầu tên và địa chỉ cá nhân – được thay thế.
- Khoản 140XF – Quyền được yêu cầu cung cấp dữ liệu hoặc tài liệu – được thay thế.
- Khoản 140XG – Việc tự buộc tội.
- Khoản 140XH – Dữ liệu hoặc tài liệu không chắc chắn là không thể chấp nhận được – được thay thế.
- Khoản 140XI – Quyền được giữ dữ liệu và tài liệu – được thay thế.
- Khoản 140 XJ – Thông tin được viên chức đứng đầu tuyên bố.
Thông tin thêm:
Luật bảo vệ người lao động
- Bãi bỏ các quy định về cam kết bảo lãnh và thay thế chúng bằng các quy định cho phép tạo ra nghĩa vụ bảo lãnh – điều này sẽ được áp dụng cho những người bảo lãnh đủ điều kiện.
- Áp dụng các hình phạt dân sự đối với việc không làm tròn nghĩa vụ bảo lãnh và một khung hình phạt dân sự (có thể là phạt tiền). Tòa án có thể yêu cầu người liên quan thanh toán nợ trong các mối quan hệ bảo lãnh. Điều này cũng đưa ra thông báo vi về việc vi phạm, thay vì phạt tiền dân sự, người bảo lãnh có thể mất quyền bảo lãnh.
- Duy trì và tăng cường sắc lệnh hiện hành cũng như các công cụ thực thi pháp luật liên quan đến quyền bảo lãnh, bao gồm:
- Truất quyền bảo lãnh của những người bảo lãnh cho nhiều người hoặc làm nhiều hồ sơ bảo lãnh.
- Hủy bỏ quyền bảo lãnh của người bảo lãnh.
- Yêu cầu đóng tiền cam kết bảo lãnh.
- Công khai người chịu khoản nợ liên quan đến trách nhiệm bảo lãnh để có thể nộp đơn xin lấy lại khoản nợ đó.
- Thiết lập việc giám sát nhằm đảm bảo việc tuân thủ nghĩa vụ bảo lãnh – điều này hỗ trợ việc bổ nhiệm giám sát viên mới với quyền được yêu cầu tài liệu hoặc những thứ liên quan đến việc tuân thủ quyền bảo lãnh và các yêu cầu khác.
- Đảm bảo rằng thông tin cá nhân liên quan đến người sở hữu visa được bảo lãnh hoặc người bảo lãnh được công khai trước khối thịnh vượng (Commonwealth) hoặc tỉnh/bang.
- Sửa đổi Luật thuế 1953, cho phép ủy viên thuế công khai các thông tin thực tế với quan chức của Bộ Di trú và Quyền công dân. Các thông tin phải có liên quan đến việc thực thi chính sách của bộ trưởng theo mục 3A phần 2 Luật Di trú.
- Bên tham gia ký một thỏa thuận với Bộ trưởng để đơn giản hóa việc nhập cảnh của những người không là công dân muốn vào Úc với mục đích làm việc, tuân thủ các nghĩa vụ bảo lãnh, hình phạt dân sự khi vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh.
- Đảm bảo rằng mối quan hệ đối tác hoặc hiệp hội chưa hợp nhất được chấp thuận cho việc bảo lãnh, đó là việc các đối tác, thành viên của hiệp hội tổ chức quản lý phải đáp ứng được nghĩa vụ bảo lãnh bất cứ khi nào.
- Bao gồm các quy định chuyển tiếp để làm rõ thêm nghĩa vụ bảo lãnh mới sẽ áp dụng đối với người đủ điều kiện bảo lãnh của các loại visa tiêu chuẩn ở thời điểm bắt đầu. Trong trường hợp nghĩa vụ mới được thi hành, cam kết bảo lãnh cũ sẽ bị mất hiệu lực.
Các điều khoản chuyển tiếp
Người bảo lãnh doanh nhân tiêu chuẩn (visa 457)
Người bảo lãnh doanh nhân tiêu chuẩn hiện tại hoặc người bảo lãnh doanh nhân chính thức theo diện này là người bị ràng buộc bởi cam kết tuân theo khuôn khổ quyền bảo lãnh mới. Điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ phải tuân theo các nghĩa vụ bảo lãnh từ ngày bắt đầu có Đạo Luật bảo vệ người lao động cho đến khi có các điều luật hiện hành.
Tuy nhiên, nếu trước khi có Đạo luật Bảo vệ người lao động mà xảy ra vi phạm của người bảo lãnh diện doanh nhân, các quy định xử phạt hành chính của Luật Bảo vệ người lao động chỉ được áp dụng khi người bảo lãnh vi phạm 1 nghĩa vụ trong khuôn khổ luật bảo lãnh mới.
Tương tự như vậy, trước khi có đạo luật bảo vệ công nhân, người bảo lãnh diện doanh nhân bị ràng buộc bởi việc cam kết trả các khoản nợ, các thủ tục thu hồi khoản tiền đó tại tòa án, mục 140S của Luật Bảo vệ người lao động – trách nhiệm trả các khoản tiền sẽ được áp dụng trong trường hợp những người bảo lãnh bị yêu cầu trả các khoản tiền đó theo trách nhiệm bảo lãnh.
– Những người bảo lãnh diện doanh nhân cũng phải tuân thủ tất cả các quy định mới được Tổ chức bảo vệ người lao động đưa ra, chẳng hạn quyền giám sát và quy định về công khai thông tin.
– Chấp thuận các điều khoản chỉ là 1 khía cạnh trong khuôn khổ bảo lãnh hiện tại. Chấp thuận các điều khoản những nhà bảo lãnh diện doanh nhân này đòi hỏi thời gian tối thiểu 2 năm hoặc 1 số người bảo lãnh đã hết thời gian bảo lãnh sẽ phải nộp đơn lại để xin phê chuẩn trở thành người bảo lãnh theo khuôn khổ mới.
Visa bảo lãnh 470 (Công nhận người bảo lãnh chuyên nghiệp).
Các hoạt động trong khuôn khổ quyền bảo lãnh hiện thời sẽ tiếp tục liên quan đến những người bảo lãnh có chuyên môn, cho đến khi sự công nhận về quyền bảo lãnh của họ chấm dứt. Điều này có nghĩa là nghĩa vụ, quyền giám sát và điều tra, điều khoản công khai thông tin và bất cứ quy định nào khác của Đạo Luật bảo vệ người lao động sẽ không áp dụng từ ngày đầu tiên.
Khuôn khổ quyền bảo lãnh mới chỉ áp dụng cho những người được công nhận là người bảo lãnh có chuyên môn sau khi đạo luật bảo vệ người lao động bắt đầu hoạt động.
Hồ sơ đang chờ thụ lý
Tất cả các hồ sơ được chấp nhận là người bảo lãnh theo mục 140E – dự thảo chưa có quyết định chính thức trước khi Luật Bảo vệ người lao động có hiệu lực, sẽ được thụ lý như trước ngày có mục 140E mới, các hồ sơ đó sẽ được quyết định phù hợp với bất kì tiêu chí nào theo quy định mới của mục 140E.
Thay đổi khác
Các quy định mới liên quan đến lợi tức có thể phát sinh từ khoản nợ với tòa án và chỉ có thể áp dụng cho thủ tục tố tụng bắt đầu sau thời điểm Đạo luật bảo vệ công dân có hiệu lực.
IMM Group (tổng hợp)
Tư vấn nhanh qua kênh:
